08:10 | 10/01/2015

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TƯ

(LV) - Ngày 31/12/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 102/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 33-NQ-/TƯ ngày 9.6.2014 của Hội nghị lần thứ 9 BCHTƯ Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

>>> Xuân về nói chuyện văn hoá 

>>> Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội 

Làng Việt trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TƯ.

Thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (sau đây viết tắt là Nghị quyết 33), Chính phủ ban hành Chương trình hành động với những nội dung sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Triển khai Nghị quyết 33, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc.

2. Mục tiêu cụ thể

- Đến năm 2020

+ Ưu tiên trong 2 năm đầu của giai đoạn này xây dựng, triển khai một số đề án, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách về tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết 33 và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách.

+ Xác định và từng bước đưa vào cuộc sống các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam; củng cố ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

+ Từng bước xây dựng thị trường văn hóa, phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh, tạo lập vị thế của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế; xây dựng môi trường văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế.

+ Hoàn thiện khung pháp lý; cải cách thể chế phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

- Đến năm 2030

+ Hoàn thiện và phổ biến các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời tạo dựng những giá trị mới phù hợp để con người Việt Nam có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, kỹ năng hội nhập phù hợp với sự phát triển của đất nước; đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

+ Phát triển đồng bộ thị trường văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa; phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong hội nhập khu vực và thế giới; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh góp phần thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách.

+ Hoàn thiện cải cách thể chế bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tuyên truyền, quán triệt, phổ biến Nghị quyết 33

a. Các Bộ, ngành, địa phương chủ động tổ chức việc quán triệt nội dung của Nghị quyết 33:

- Nhận thức đúng về mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, 5 quan điểm, 6 nhiệm vụ, 4 giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam;

- Quán triệt các yêu cầu cơ bản và lâu dài; ưu tiên tập trung những nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm, trọng điểm trước mắt đến năm 2016;

- Xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đoàn thể và người dân chủ động tham gia nâng cao vai trò, vị thế của văn hóa; tạo các nguồn lực phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Phát huy năng lực, trách nhiệm người đứng đầu trong phát triển văn hóa, xây dựng con người ở từng địa phương, bộ, ngành, đơn vị.

b. Các cơ quan báo chí, truyền thông làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Nghị quyết 33 đến toàn xã hội.

2. Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

a. Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, theo các giá trị chuẩn mực, trong đó trọng tâm là nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

- Xây dựng và đưa vào thực tiễn hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam; tăng cường các giải pháp đồng bộ tạo chuyển biến để mọi người dân Việt Nam có ý thức tôn trọng pháp luật, hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam nhằm ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

- Giáo dục nhân cách, đạo đức, lý tưởng, lối sống trong gia đình, nhà trường và xã hội; tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, làm cho gia đình thực sự là nơi nuôi dưỡng nhân cách con người; xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người; đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập;

- Triển khai có hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức và xã hội học tập, trong đó ưu tiên định hướng về nghề nghiệp, giáo dục kỹ năng sống; phát huy lợi thế và hạn chế tác hại của khoa học, công nghệ mới đối với thế hệ trẻ; phối hợp các phương thức giáo dục trong và ngoài nhà trường;

- Thực hiện tốt Chương trình tổng thể nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam; gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống; phát động phong trào tập luyện thể thao nhằm phát triển thể chất, tăng tuổi thọ người Việt Nam và lành mạnh hóa lối sống của nhân dân;

- Tiếp tục triển khai các chương trình giáo dục nghệ thuật nhằm nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ của nhân dân, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho con người; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; phát triển giáo dục văn hóa ngoài nhà trường để mọi người dân có hiểu biết, khả năng thưởng thức và kỹ năng biểu đạt văn hóa, nghệ thuật; phát huy tính tích cực của cá nhân, cộng đồng và xã hội trong sinh hoạt văn hóa.

b. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng, thế mạnh của văn hóa dân tộc, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho văn hóa, tăng cường xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

- Hình thành các tổ chức chuyên trách để tư vấn, kết nối, phối hợp hoạt động phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam;

- Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; lựa chọn các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế của Việt Nam; xác lập thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế;

- Huy động và phát triển lực lượng lao động chuyên nghiệp, có kỹ năng kinh doanh và khả năng hợp tác; phát huy tối đa tiềm năng, tạo cơ hội nghề nghiệp cho các tài năng sáng tạo đem lại lợi ích cho các ngành công nghiệp văn hóa nói riêng và nền kinh tế quốc dân;

- Xây dựng, hoàn thiện các thị trường sản phẩm, dịch vụ gắn với định hướng giá trị văn hóa; gắn kết hiệu quả giữa các tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa với công chúng; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tìm hiểu và tham gia thị trường văn hóa, xúc tiến các hoạt động đầu tư cho văn hóa;

- Hình thành các không gian, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa thông qua các hoạt động kết nối và trao đổi; phát triển mạng lưới tập trung những đơn vị, cá nhân làm việc trong các ngành công nghiệp văn hóa ở các thành phố lớn; xây dựng cơ sở hạ tầng cho các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh, phát huy vai trò khoa học, công nghệ, đặc biệt công nghệ số;

- Thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên quan. Củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý và cơ quan thực thi quyền tác giả từ Trung ương đến địa phương.

c. Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa

Mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế, vượt qua các thách thức và ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa.

- Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại; đa dạng hóa, đa phương hóa các hình thức hợp tác quốc tế về văn hóa; tổ chức một số sự kiện văn hóa, nghệ thuật quốc tế có thương hiệu tại Việt Nam để cho công chúng Việt Nam được tiếp cận với các nền văn hóa, nghệ thuật đa dạng của thế giới; khẳng định năng lực tổ chức, nâng cao vị thế, uy tín đất nước;

- Tăng cường quảng bá văn hóa, nghệ thuật, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; tham gia tích cực các sự kiện văn hóa, nghệ thuật quốc tế lớn; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm, dịch vụ văn hóa ra nước ngoài; đa dạng hóa các kênh truyền thông quảng bá hình ảnh quốc gia;

- Tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới; chủ động lựa chọn những giá trị văn hóa mới phù hợp để làm phong phú thêm văn hóa dân tộc, nâng cao khả năng hội nhập quốc tế về văn hóa của con người Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài, các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giới thiệu đất nước, con người, văn hóa tại Việt Nam; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án triển khai Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam;

- Xây dựng các trung tâm văn hóa Việt nam ở nước ngoài, tiếp tục cử tham tán văn hóa ở các địa bàn trọng điểm, đáp ứng nhu cầu và mức độ quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa và tình hình phát triển thực tế của đất nước. Đẩy mạnh hoạt động dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài và cho người nước ngoài ở Việt Nam.

d. Tăng cường xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế

Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu quả theo hướng dân chủ hóa và mang tính nhân văn; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng và tăng cường yếu tố văn hóa trong các chương trình phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân vì sự phát triển bền vững.

- Tăng cường vai trò của các cơ quan, tổ chức và lực lượng giám sát, phản biện xã hội nhằm minh bạch hóa hoạt động của cả hệ thống chính trị; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng dân chủ, công khai quy trình làm việc và người chịu trách nhiệm giải quyết công việc;

- Nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức và bộ máy công quyền; rà soát, chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức, viên chức; có hình thức khen thưởng kịp thời đối với người tốt, việc tốt và xử lý nghiêm các vi phạm;

- Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục tư tưởng và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

- Đề cao yếu tố văn hóa và tri thức trong các sản phẩm và hoạt động kinh doanh; phát huy vai trò tư vấn và phản biện của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng và triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội;

- Xây dựng văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp; tôn vinh các doanh nghiệp, doanh nhân kinh doanh có văn hóa, cạnh tranh lành mạnh.

đ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật; tăng cường hiệu quả của truyền thông đại chúng và các thiết chế văn hóa; phát triển đồng bộ văn hóa, thể thao, du lịch góp phần xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

- Phát huy giá trị di sản văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; tiếp tục thực hiện đầy đủ các cam kết với UNESCO đối với các di sản được công nhận; bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa; phát huy vai trò của chủ thể văn hóa;

- Tạo điều kiện thuận lợi nhằm phát huy tài năng, năng lực sáng tác, quảng bá văn học, nghệ thuật của nhân dân, đặc biệt là văn nghệ sĩ, nghệ nhân. Chú trọng phát triển năng khiếu và tài năng trẻ; đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước; hoàn thiện hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật; thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới;

- Đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động và cơ chế đầu tư cho các cơ quan báo chí, truyền thông; chú trọng quản lý các loại hình thông tin trên mạng Internet; đề cao tính tư tưởng và nhân văn của các cơ quan báo chí, truyền thông; chủ động và thích ứng với sự phát triển của công nghệ thông tin trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam;

- Đa dạng hóa các phương thức hoạt động, sử dụng hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa từ Trung ương tới địa phương; phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong xây dựng, tổ chức hoạt động tại các thiết chế văn hóa cơ sở; khuyến khích thành lập và tạo điều kiện thuận lợi cho các thiết chế văn hóa ngoài công lập; phát huy vai trò và tính tích cực của hệ thống thiết chế văn hóa truyền thống, các nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”;

- Giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số. Khuyến khích nhân dân sáng tạo, trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.

e. Huy động các nguồn lực xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam

Tăng cường đầu tư của Nhà nước, thu hút sự đóng góp của nhân dân và nguồn tài chính hợp pháp khác; chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong xây dựng văn hóa, phát triển con người Việt Nam.

- Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch các nguồn đầu tư của Nhà nước; ưu tiên nguồn kinh phí cho các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng hưởng chính sách xã hội, đối tượng chịu thiệt thòi và cho một số loại hình nghệ thuật truyền thống và hiện đại cần bảo tồn và phát triển; xây dựng, hoàn thiện đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa;

- Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm, đồng bộ với hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; tạo hệ thống cung cấp dịch vụ văn hóa công hiện đại, phù hợp đặc thù vùng, miền, dân tộc;

- Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng trong lĩnh vực văn hóa; khuyến khích, động viên các tổ chức, cá nhân trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển văn hóa, xây dựng con người; hình thành, vận hành các quỹ phát triển và hỗ trợ sáng tạo theo từng lĩnh vực của văn hóa;

- Đổi mới công tác quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; quy hoạch hệ thống các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật; tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn ở các nước phát triển;

- Sử dụng, đãi ngộ và phát huy năng lực sáng tạo của các văn nghệ sĩ có đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; có cơ chế thích hợp, tạo điều kiện, môi trường phát huy tài năng, sáng tạo của các văn nghệ sĩ trẻ;

- Xây dựng đội ngũ trí thức là người dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương.

3. Hoàn thiện thể chế và các cơ chế, chính sách

Quản lý văn hóa bằng luật pháp, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển văn hóa, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của con người; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh làm động lực cho phát triển bền vững.

a. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở Trung ương và địa phương; đề cao vai trò, vị trí, nhiệm vụ của cấp cơ sở; tập trung xây dựng thể chế phù hợp và tạo điều kiện cần thiết để mọi người phát huy năng lực và sức sáng tạo;

b. Tăng cường quản lý văn hóa bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và các công cụ điều tiết vĩ mô; hỗ trợ và tạo môi trường phát triển văn hóa bền vững thích ứng với thị trường văn hóa;

c. Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để hủy bỏ các quy định chồng chéo, không khả thi, không phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế; gia tăng các quy định của pháp luật điều chỉnh, ngăn chặn những thói hư, tật xấu, mặt hạn chế của con người Việt Nam; tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội và chương trình công tác của Chính phủ; xây dựng hệ thống văn bản quy định về cơ chế quản lý, nội dung hoạt động và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động văn hóa, chính sách, cơ chế đầu tư của Nhà nước, chính sách thuế, quyền tác giả và quyền liên quan... phù hợp với pháp luật Việt Nam và các cam kết, thông lệ quốc tế;

d. Xây dựng, thực thi các chính sách, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực xã hội, các Hội nghề nghiệp, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

4. Tăng cường giám sát thực hiện

Bảo đảm việc thực thi có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình hành động.

- Xây dựng cơ chế phối hợp chỉ đạo và hoạt động thực hiện Chương trình hành động; cơ chế kiểm tra và giám sát giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

- Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các Bộ, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện các chương trình, đề án có liên quan về giáo dục và đào tạo, thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ,... để bảo đảm lộ trình, nguồn lực phù hợp triển khai Chương trình hành động.

- Tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, nhất là các hội văn học, nghệ thuật trong việc vận động, tổ chức quần chúng, giới trí thức thực hiện nhiệm vụ về văn hóa, sáng tạo văn hóa, giáo dục và định hướng hưởng thụ văn hóa lành mạnh, đặc biệt cho lớp trẻ; tư vấn, phản biện và giám sát xã hội đối với các chính sách, chương trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát đồng thời với xử lý, khen thưởng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

a. Chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Bộ, ngành liên quan, các tổ chức, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Nghị quyết 33 và Chương trình hành động;

b. Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chương trình hành động, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ kết vào năm 2020, tổng kết vào năm 2030;

c. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối và bố trí ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực văn hóa để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình hành động.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông: Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, truyền thông phản ánh kịp thời việc thực hiện Nghị quyết 33 và Chương trình hành động; hướng dẫn tổ chức, định hướng nội dung thông tin, xây dựng cơ chế, chính sách hoạt động cho các cơ quan báo chí, truyền thông; tập trung quản lý các loại hình thông tin trên mạng Internet; đề cao tính tư tưởng và nhân văn của các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì triển khai có hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tập trung định hướng nghề nghiệp, giáo dục kỹ năng sống, đặc biệt cho thế hệ trẻ; phối hợp giữa giáo dục văn hóa trong và ngoài nhà trường.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ: Tập trung quản lý, tạo điều kiện phát huy vai trò khoa học, công nghệ, đặc biệt công nghệ số trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; phát huy lợi thế và hạn chế tác hại của khoa học công nghệ mới đối với thế hệ trẻ; ưu tiên nguồn lực thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở các cấp về xây dựng và phát triển văn hóa và con người Việt Nam.

5. Bộ Ngoại giao: Chủ trì triển khai hiệu quả các hoạt động ngoại giao văn hóa, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại, theo dõi thúc đẩy các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa.

6. Bộ Tài chính: Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bảo đảm nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình hành động.

7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cân đối vốn đầu tư phát triển thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình hành động; phối hợp đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng trong lĩnh vực văn hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

8. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao

a. Căn cứ vào Chương trình hành động, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hành động; định kỳ sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

b. Xây dựng dự toán chi để thực hiện kế hoạch hành động, tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước hằng năm gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

9. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

a. Chỉ đạo việc thực hiện tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật về xây dựng và phát triển văn hóa, con người, đặc biệt ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu chế xuất;

b. Căn cứ vào Chương trình hành động của Chính phủ, xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch hành động của địa phương; định kỳ sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

c. Chỉ đạo việc lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa, con người gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và là một nội dung thiết yếu trong quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương.

10. Đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các Tỉnh ủy, Thành ủy và các cơ quan báo chí, truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức và nhân dân tích cực tham gia thực hiện Chương trình hành động.

11. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia phổ biến, thực hiện, vận động các tổ chức và nhân dân tích cực tham gia, giám sát thực hiện Chương trình hành động; tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới, nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở khu dân cư; tăng cường vai trò của các cơ quan, tổ chức và lực lượng giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

Trong quá trình thực hiện Chương trình hành động này, nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể của kế hoạch hành động của các Bộ, ngành, địa phương chủ động phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Captcha
Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về báo chí vẫn còn nguyên giá trị
Nhân tố chủ quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh/Phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Làng Văn hoa - Du lịch các dân tộc Việt Nam: Khai thác và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống
Ngày Xuân đi hội/ Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam với các lễ hội mùa xuân
Nhớ Tết xưa/Tết đông của người Hà Nhì/ Bánh tẻ Phú Nhi rộn ràng đón Tết
Loading
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site