10:09 | 23/08/2011

Dân dã như củ riềng

(LV) - Củ riềng vốn quen thuộc với người Việt Nam. Loại cây nhỏ, có thân rễ mọc bò ngang và dài. Những cụm hoa riềng mặt trong màu trắng, mép hơi mỏng, kèm hai lá hình mo, một màu xanh một màu trắng.

 Lá riềng hầu như không có cuống, có bẹ, hình dài như cái mác. Riềng mọc hoang hay được trồng ở khắp nơi trên đất nước ta và một số nước vùng nhiệt đới thuộc châu Á. Ở thôn quê, bà con nông dân thường tận dụng đất thừa để trồng dăm ba cây riềng không chỉ để dùng trong chế biến món ăn mà phòng khi cần chữa bệnh, cũng rất có ích. Riềng ưa ẩm, nơi râm mát song không chịu được úng ngập.

Nguồn gốc tên gọi

Riềng có tên là Phong Khương, Cao Lương Khương, Tiểu Lương Khương. Cái tên Cao Lương Khương có nghĩa là Gừng (Khương) mọc ở đất Cao Lương (Trung Quốc) mà thành tên. Lại có tài liệu cho rằng, người ta tìm thấy cây riềng đầu tiên trên hòn đảo Hải Nam thuộc phía Nam Trung Quốc. Theo truyền thuyết, riềng xuất hiện gần vùng lục địa nhờ phần rễ của nó kéo dài cho đến tận Thượng Hải và một số hải cảng của Trung Quốc. Vào năm 1871, một người tên H.F. Hance của tờ báo Journal of The Linnean Society đã đặt tên cho nó là riềng. Thời đó, tại các chợ, riềng rất khan hiếm trong khi tại đảo Java, trồng rất nhiều riềng. Người ta kinh doanh riềng qua các nước ở phía Đông và đến tận Bắc châu Âu từ thế kỷ thứ 12. Cũng có người cho rằng, tên của nó xuất xứ từ tiếng Ả Rập sau đó, nó được người Trung Quốc thay đổi tên thành riềng, có nghĩa là gừng cay nhẹ và được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.

Ẩm thực với riềng

Có lần theo người bạn về quê ăn Tết, nhìn thấy bánh chưng sau khi nấu chín có màu xanh gần như màu lúc lá còn sống, hỏi ra mới hay do sau khi nấu bánh gần chín, thả vào nồi bánh ít củ riềng đã xay nên lá mới đẹp như vậy. Đúng là mẹo hay chỉ có dân “lành nghề” mới biết được.

Lại có chuyện rằng, ở làng Vũ Đại xã Hòa Hậu thuộc huyện Lý Nhân, Hà Nam người dân nơi đây có thông lệ kho cá mè với nhiều muối và riềng, sau đó um trong trấu cả ngày cho đến khi nồi cá cạn dần và chín nhừ hẳn để có thể ăn cả xương. Một miếng cá một miếng riềng càng tăng thêm hương vị đậm đà của nồi cá kho trong mấy ngày Tết.

Do xuất xứ từ châu Á, nên các nước láng giềng với Việt Nam như Thái Lan, Indonesia… riềng cũng là sự chọn lựa thích hợp trong ẩm thực. Người Thái có món xúp Tom Yum và Tom Kha Gai thơm ngậy hương riềng, người Indonesia với món Soto có riềng cũng rất đặc trưng. Một số món ăn của người miền Trung như tôm chua, tré… thường không thể thiếu những cọng riềng được cắt chỉ một cách khéo léo lẫn trong màu nước tôm đỏ rực hay những cái tré béo ngậy thịt đầu heo. Một chủ hàng người Huế chuyên cung cấp tôm chua, tré cho biết, thêm gừng vào món ăn không chỉ giữ nguyên hương vị món ăn, mà còn giúp ăn nhiều mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Đúng là sự kết hợp “hai trong một” thật tuyệt vời. So với các loại cây gia vị khác, cây riềng tuy xuất hiện khá khiêm nhường trong các món ăn nhưng khi nếm thử qua những món ăn có riềng sẽ khó quên được mùi hương hấp dẫn của nó.

Bài thuốc dân gian hữu ích

Trong nghiên cứu hiện đại, thành phần hóa học của riềng có khoảng 1% tinh dầu, có mùi thơm long não, chủ yếu có xineola và metylxinnamat. Ở dạng tươi sống, riềng có mùi hương gần giống như gừng, nhưng không cay nồng như gừng. Riềng còn là vị thuốc phổ biến thường dùng trong dân gian, sau khi đã loại bỏ phần rễ, lá, thân của cây thì được rửa sạch, cắt lát phơi khô. Một số nơi, người ta còn dùng rễ phơi khô làm thuốc theo cách đào rễ, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con rồi cắt thành từng đoạn 2 - 3cm đem phơi khô. Hỗn hợp riềng và nước lá chanh được dân ta dùng như thuốc bổ.

Riềng được dùng cả trong y học hiện đại và y học cổ truyền. Theo y học cổ truyền, riềng có vị cay, mùi thơm, tính ẩm vào hai kinh tì và vị, có tác dụng ôn trung, giảm đau, tiêu hóa thức ăn. Riềng tẩm rượu, sấy khô, rồi tán nhỏ và trộn đều uống chữa đau dạ dày, nhất là khi bệnh đã thành mạn tính. Củ riềng già, chuối xanh và một ít vôi bột cũng là bài thuốc trị hắc lào công hiệu. Khi kết hợp với một số thảo mộc khác như trần bì, sa nhân, đại táo, quế, nụ sim, thanh bì, bột thảo quả…cũng là những bài thuốc phổ biến trong dân gian. Theo Tây y, riềng được dùng để làm thuốc kích thích tiêu hóa, chữa đầy hơi, đau bụng, nôn mửa, ợ hơi, đau dạ dày, cảm sốt, sốt rét, có thể nhai dập chữa đau răng. Dùng 30 đến 60 hạt riềng để chế biến thành bột sắc lấy nước uống có thể chữa bệnh, được nhiều người biết đến ngày nay.

Riềng là một phần của bản sắc văn hóa dân tộc ta cả trong ẩm thực lẫn trồng trọt. Khi nhắc đến riềng, người ta sẽ nghĩ ngay đến những đất nước thuộc khu vực châu Á trong đó có Việt Nam. Từ những món ngon cho đến bài thuốc truyền từ đời này sang đời khác, riềng dần khẳng định được giá trị riêng của nó mà không một loại cây gia vị nào có thể sánh bằng. Có người ví von riềng giống như “bùa hộ mệnh” trong các món ăn chơi, mà thiếu nó cũng có nghĩa là thiếu đi rất nhiều món ăn bạn đang thưởng thức.

Dung Nhi

Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Ý kiến độc giả

Sự kiện nào được quan tâm nhiều nhất?

  •   Khai trương Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam
  •   Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
  •   Bầu chọn Vinh Hạ Long là kì quan thiên nhiên thế giới
  •   Việt Nam vận động đăng cai ASIAD 18
  •   Bầu chọn Quốc hoa Việt Nam
Loading
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site