16:39 | 12/08/2013

Quan họ: Điểm sáng trong dân ca Việt Nam

(LV) - Lời hay ý đẹp, ngôn ngữ bình dân nhưng tinh tế, ý nhị, giàu hình tượng và cảm xúc; âm điệu phong phú, trữ tình; lối hát mượt mà với kỹ thuật nảy hạt độc đáo; phong cách lịch thiệp - tất cả làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của dân ca Quan họ.

>>> Nhã nhạc - Âm nhạc cung đình Việt Nam: Tinh hoa nghìn năm hội tụ 

>>> Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên: Kết tinh của hồn thiêng sông núi 

>>> Hát Xoan: Nghệ thuật hát thờ linh thiêng và quyến rũ 

Ngày 30/9/2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Quan họ đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại. 

Dân ca quan họ là một trong những loại hình dân ca đặc trưng của Việt Nam, bắt nguồn từ tục kết chạ giữa các làng xóm. Quá trình hình thành lời ca, làn điệu Quan họ gắn liền với quá trình phát triển của đời sống xã hội nhằm nâng cao và tôn vinh các mối quan hệ cộng đồng và giao lưu văn hóa. Dân ca quan họ được hình thành khá lâu đời, do cộng đồng người Việt (Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang sáng tạo nên. Đây là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm.

Nét đặc trưng của Quan họ chính là ở hình thức hát đối đáp. Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người Quan họ. Hát quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng, bằng nhiều kỹ thuật như: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt. Kỹ thuật nảy hạt của các nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng, khó lẫn. Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những ngưòi có kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” điêu luyện, thuộc nhiều bài, nhiều "giọng" Quan họ. Họ chính là những bậc thầy dân gian thực hành việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền vốn di sản quý báu đó cho các thế hệ mai sau nên rất xứng đáng được tôn vinh.

Tập quán xã hội trong sinh hoạt quan họ

Quan họ chủ yếu hát vào mùa xuân, trong các ngày hội làng. Muốn hát quan họ phải có nam và nữ, mỗi bên thường có 6 người, đứng đầu là ông/bà Trùm (hoặc anh/chị Cả) làm nhiệm vụ điều hành. Những người còn lại (liền anh/liền chị) được đặt tên theo thứ tự: anh/chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu (nếu đông hơn 6 người thì đặt tên là anh/chị Ba, Tư… (bé) chứ không đặt anh/chị Bảy, Tám…

Quan họ tồn tại trong một môi trường văn hoá với những tập quán xã hội riêng, trong đó quan trọng hàng đầu là tập quán “kết chạ” giữa các làng quan họ. Những làng đã “kết chạ” sẽ luôn giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần. Từ tục “kết chạ”, xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục “kết bạn” quan họ theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại. Với các làng đã “kết chạ”, trai gái quan họ đã kết bạn không được cưới nhau.

Một điểm khác biệt của Quan họ so với các loại hình dân ca khác ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục “ngủ bọn”. Sau một ngày lao động, “bọn” quan họ và các em thiếu niên nam/nữ 9-10 tuổi thường rủ nhau “ngủ bọn” ở “nhà chứa” - địa điểm sinh hoạt quan họ, nơi hội họp, luyện hát, đồng thời cũng là nơi đón tiếp quan họ bạn - để các anh chị lớn trong “bọn” luyện cho các em nhỏ tập nói năng, ứng xử, giao tiếp, học câu, luyện giọng và nhất là phải biết bẻ giọng, ứng đối kịp thời.

Ứng xử trong sinh hoạt quan họ

Phong cách ứng xử trong sinh hoạt quan họ là một hệ thống quy ước bất thành văn nhưng được toàn vùng quan họ thống nhất tuân theo. Hệ thống quy ước này gắn liền với những phong tục, tập quán của các cộng đồng dân cư vùng quan họ.

Nề nếp quan họ đòi hỏi mọi cử chỉ, ngôn ngữ, trang phục… đều phải lịch sự, trang nhã. Khi muốn mời “bọn” quan họ khác đến nhà để hát một canh thì cũng phải mời theo lề lối, thể hiện ở cơi trầu mang theo làm quà, nội dung lời mời… Quan họ là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc, mỗi khi khách đến chơi nhà, không chỉ "rót nước pha trà" mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: "Mỗi khi khách đến chơi nhà, đốt than quạt nước pha trà mời xơi. Trà này quý lắm người ơi, mỗi người một chén cho tôi vui lòng"...

Văn hoá quan họ còn là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà. Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát "Người ơi người ở đừng về"; để đến khi tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ "Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này... Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin"… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết "Đến hẹn lại lên"… trong mùa hội tới.

Trong sinh hoạt văn hoá quan họ còn hiện hữu tình người thắm thiết, thuỷ chung, biết ứng xử có trước có sau, có trên có dưới. Những việc làm, những lời khuyên bảo, chỉ dẫn... của lớp người đi trước luôn được coi trọng. Mối quan hệ này liên quan chặt chẽ đến sự bảo tồn và phát triển các thành tựu văn hoá, nghệ thuật quan họ.

Quan họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu. Phương thức này là một yếu tố giúp cho quan họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn so với ban đầu. Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn. Mặc dù sự thay đổi này cũng làm cho quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, vấn đề bảo tồn nguyên trạng quan họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết.

Dân ca quan họ được chia thành 2 loại:

Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Quan họ truyền thống có những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Quan họ truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức "cái tình" của bạn hát). Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như : Hừ La,La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo.

Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng... Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa... 


Song Nguyên
Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Ý kiến độc giả

Sự kiện nào được quan tâm nhiều nhất?

  •   Khai trương Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam
  •   Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
  •   Bầu chọn Vinh Hạ Long là kì quan thiên nhiên thế giới
  •   Việt Nam vận động đăng cai ASIAD 18
  •   Bầu chọn Quốc hoa Việt Nam
Loading
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site