21:39 | 23/05/2015

Di tích lịch sử Đền Hát Môn

(LV) - Đền Hát Môn, thuộc địa bàn xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Theo một số tài liệu ghi lại, vùng Hát Môn là nơi Hai Bà Trưng tổ chức hội quân sĩ sau khi hội tại thành Phong Châu. Đây cũng là nơi tuẫn tiết của Hai Bà Trưng khi cuộc khởi nghĩa thất bại.

 >>> Cố đô Hoa Lư

>>> Di tích lịch sử Khu đền thờ Tây Sơn Tam kiệt

 >>> Đền thờ Hai Bà Trưng

Có thể thấy, truyền thuyết về Hai Bà Trưng - người anh hùng dân tộc đã lắng đọng ngàn năm ở vùng đất cổ xứ Đoài. Nó đã sống mãi với thời gian và trong tâm thức dân gian. Vì vậy trong suốt diễn trình lịch sử của dân tộc, ngôi đền vẫn luôn được bảo tồn. Cho đến nay, quần thể đền gồm các hạng mục: Quán Tiên (Miếu Các Cô), cổng Tứ trụ, Nghi môn, đền chính, nhà Tạm ngự, nhà Ngự dội (Mộc dục), nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định, khu nhà khác và không gian lễ hội rộng lớn.

Dọc đường vào đền và xung quanh các hạng mục chính có nhiều cây đại thụ bao trùm không gian mát rượi. Ngày thường, quang cảnh trầm mặc, u tịch gợi cho khách chiêm bái tâm tình hoài cổ; ngày hội, tưng bừng, náo nức cả một vùng, xứng là nơi di tích lịch sử, danh thắng quốc gia.

Mở đầu khu di tích là Quán Tiên được nhân dân dựng lên để thờ tiên thánh đã hiển linh thành bà lão bán hàng nước âm phù giúp Hai Bà Trưng. Bên cạnh đó là nhà Tạm ngự có nền cao bằng mặt đê, kết cấu kiểu chữ đinh (chuôi vồ) để rước hai bà lên ngự những năm nước lớn. Tiếp đó là cổng vào được làm theo kiểu tứ trụ có niên đại ở thời Nguyễn. Có thể nghĩ rằng, đây là những tứ trụ thông linh, mà hai trụ giữa lớn hơn với đỉnh trụ là bốn con phượng theo kiểu lá lật, vì phượng tượng trưng cho bầu trời, với đầu đội công lý và đức hạnh, mắt là mặt trời - mặt trăng lưng cõng bầu trời, đuôi là tinh tú, cánh là gió, chân là đất, lông là cây cỏ... Trong tư cách này, phượng như hội tụ sinh lực của bốn phương trời truyền qua cột mà tràn về trần gian. Hai trụ nhỏ hơn với đỉnh là đôi lân trong thế ngồi nhìn xuống tượng trưng cho trí tuệ, sự trong sáng của tầng trên. Thân trụ biểu lớn ghi đôi câu đối bằng chữ Hán với nội dung khẳng định sự bền vững của đất nước cùng chủ quyền dân tộc.

Quán tiên
Quán Tiên.
 

Từ cổng đền, rẽ tay trái là đến Nghi môn (nhân dân thường gọi là Tam quan) được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng mái tượng cho âm - dương đối đãi và biểu trưng cho “Tam tài” là Thiên - Địa - Nhân nhất thể trong “Dịch học”. Nghi môn tuy không cao lớn nhưng được làm theo hình thức cổ truyền nên mang nét ấm cúng, trữ tình để cho du khách khi bước tới đây sẽ dẹp bỏ được những lo toan, giữ lòng thanh tịnh mà hướng tới cõi thiêng liêng.

Qua khỏi Nghi môn là đến sân rồng thoáng rộng có hai ban thờ nhỏ. Tương truyền, trước khi hoá Hai Bà Trưng đã được dân làng đến dâng bánh trôi và muỗn ngự. Hạt muỗm Hai Bà để lại trở thành hai cây đại thụ, dân làng lấy đó làm hướng lập đền thờ. Về sau hai cây muỗm không còn, dân làng lập hai ban thờ nhỏ thờ thần Mộc tại đó.

Nghi môn (Tam quan)
Nghi môn (Tam quan).
 

Đăng đối nhau qua sân rồng là hai dãy Tả Hữu mạc, mỗi dãy gồm 5 gian tường hồi bít đốc với bốn hàng chân cột, vì nóc theo kiểu giá chiêng, cốn kèo ngồi, quá giang trốn hai hàng cột giữa. Hạng mục kiến trúc này được tu bổ gần đây với kỹ thuật chủ yếu là bào trơn đóng bén vừa giản dị, bền chắc, vừa tạo sự thông thoáng, thuận tiện cho nhân dân khi nghỉ chân sửa lễ trước khi vào đền dâng lễ Hai Bà.

Hạng mục kiến trúc được quan tâm nhất là đền chính được dựng theo kiểu tiền nhất, hậu đinh. Bằng vào khảo sát thực địa và qua nghệ thuật kiến trúc có thể thấy rằng toà Đại bái có phần sớm hơn Thiêu hương và Hậu cung, với phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Niên đại ghi trên cầu đầu cho biết đền được tu bổ lớn vào năm Gia Long 18 (1819), sau đó còn được tu bổ nhiều lần nữa mà gần đây nhất là năm 2004-2006.

Kiến trúc Đại bái đền được dựng theo kiểu năm gian tường xây hồi bít đốc, bốn hàng chân cột đặt trên một nền thấp với hai mái chảy lợp ngói ri. Kết cấu bộ khung gỗ trong lòng nhà gồm bộ vì nóc với kiểu giá chiêng kết hợp chồng rường, cốn mê, bẩy hiên và bẩy hậu.

Đại bái còn được tô điểm bằng các cửa võng gỗ chạm cùng các bức hoành phi chữ Hán có nội dung biểu dương sự nghiệp của Hai Bà Trưng đã nối lại nền chính thống của các vua Hùng ngày trước như: Lạc Hùng chính thống (chính dòng Hùng Lạc, Trì tiết hành nghĩa (giữ tiết làm việc nghĩa)...

Đại bái đền (Đền chính)
Đại bái đền (Đền chính).
 

Thiêu hương và Hậu cung phía trong đều được làm chồng diêm hai tầng mái, tường hồi bít đốc. Bộ vì nóc ở Thiêu hương được làm kiểu giá chiêng kiêm chồng rường với bốn hàng chân, còn ở toà Hậu cung có kết cấu chính là các bộ vì kiểu ván mê mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ XIX. Ngoài ra, đền còn có thêm một số hạng mục mới như Khu đàn thề, Thủy đình.

Nổi lên trong kiến trúc đền Hai Bà Trưng ở Hát Môn là những mảng chạm khắc. Có thể nói rằng, hiện tượng chạm dày đặc ở đầu dư, cốn, xà nách, bẩy, ván gió... dưới dạng chạm nổi, lộng như đã đạt đến đỉnh cao của kỹ thuật, trong đó nổi lên là các đề tài gắn với rồng với nhiều dạng thức khác nhau như: Những con rồng ở đầu dư với mũi đao mác vát chéo hoặc gọt tròn, mà không nhọn là sản phẩm của thế kỷ XVIII; tiếp đó là những con rồng của thời Nguyễn (thường đi liền với hệ thống tứ linh) thuộc giai đoạn đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, điển hình là rồng trên cốn mê ở đại bái hay rồng chầu mặt trời trên ván mê ở Hậu cung. Nhìn chung, chúng ta vẫn đọc được ở đây, thông qua những con rồng, là ước vọng cầu mưa, cầu mùa, cầu sự sinh sôi. Ở đây còn có những con phượng hàm thư như nhắc nhở đến ý thức coi trọng Nho học; rồi long mã và đặc biệt là đôi lân đá ở bậc thềm Đại bái như biểu hiện về khả năng cõng không gian và thời gian chuyển động - vì vậy còn tượng trưng cho tư cách của bậc thánh nhân.

Thủy đình
Thủy đình.
 

Trong đền còn có nhiều đồ thờ tự như: Hương án, bát bửu, hạc, kiệu song loan... với nhiều chất liệu: gỗ, đồng, giấy, vải, sành, sứ...gắn với các triều đại từ thời hậu Lê đến thời Nguyễn và của cả thế kỷ XX. Các đồ thờ tự này là sản phẩm văn hoá vật thể, chứa đựng ý nghĩa phi vật thể, đó là ước vọng truyền đời của tổ tiên, qua đó như để cầu nguồn hạnh phúc cho con người, cho vạn vật. Đặc biệt, các tư liệu Hán nôm trong đền gồm 6 bia đá, 22 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến và rất nhiều câu đối, hoành phi, đại tự cổ do các quan chức, nhân sĩ trong vùng tỏ lòng bái ngưỡng Hai Bà từ các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Sơn Tây và bản hạt đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá về công đức của Hai Bà và quá trình xây dựng, tu tạo ngôi đền qua các thời kỳ.

Hội đền Hát Môn được tổ chức hằng năm vào ngày 6 tháng 3 (Âm lịch), với các nghi lễ và trò diễn dân gian thu hút đông đảo nhân dân địa phương và khách thập phương. Đặc biệt, tục làm bánh trôi và lễ rước bánh trôi dâng Hai Bà đã trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, Đền Hát Môn được chọn làm nơi sinh hoạt, luyện tập của dân quân du kích địa phương. Những sự kiện lịch sử và hệ thống di tích quanh vùng sông Hát góp phần làm giàu thêm nội dung và tôn cao giá trị của đền thờ Hai Bà Trưng.

Với những giá trị đặc biệt, di tích Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (tại Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013).

Kim Nương

Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Captcha
Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Rộn ràng lễ mừng cơm mới của đồng bào Si La/Giải mã ché thiêng của người Ê Đê
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về báo chí vẫn còn nguyên giá trị
Nhân tố chủ quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh/Phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Làng Văn hoa - Du lịch các dân tộc Việt Nam: Khai thác và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống
Ngày Xuân đi hội/ Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam với các lễ hội mùa xuân
Loading
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site